Một năm thực hiện TT 30- Sự chuyển biến tích cực về đổi mới tư duy và phương pháp dạy học

Thứ hai - 14/03/2016 09:52 | Số lần đọc: 606
Quy định về đánh giá học sinh tiểu học Ban hành kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT hành ngày 28/8/2014 của Bộ GD&ĐT có hiệu lực thực hiện từ ngày 15/10/2015 (Thông tư 30) đã làm thay đổi căn bản về đánh giá học sinh so với các văn bản trước đây và đặc biệt là thay đổi quan niệm ăn sâu trong cán bộ quản lý, giáo viên và xã hội về đánh giá, xếp loại học sinh dự trên chủ yếu là điểm số. Con “sóng” dư luận xã hội của các bậc cha mẹ học sinh và ngay cả trong lòng CBQL, GV ngành GD&ĐT thời điểm này của năm trước nay đã trở nên dịu êm; đã xuất hiện những đánh giá, nhiều lời khen về ưu điểm và thành công của quyết liệt việc thay thế điểm số bằng những lời nhận xét, tư vấn, động viên trong vở, bài làm của học sinh (quyết liệt vì trước nay hằng ngày GV đã nhận xét bằng lời, ghi nhận xét bài làm). Nhìn lại sau một năm Thông tư 30 có hiệu lực nó đã tạo ra nhiều thay đổi có tính đột phá trong tư duy đội ngũ CBQL, GV của ngành, những boăn khoăn, trăn trở bước đầu đã được giải mã. “Đổi mới căn bản, toàn diện” bước đầu đã được chấp nhận và có hiệu quả. Thông tư 30 không những là cơ sở để cho đội ngũ giáo viên thay đổi căn bản về tư duy trong đánh giá học sinh trước đây vốn ăn sâu trong tiềm thức của bao thế hệ người làm công tác giáo dục mà còn giúp giáo viên điều chỉnh đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học một vấn đề hàng kì bồi dưỡng chuyên môn được yêu cầu mà vẫn chưa rõ nét trong thời gian qua.

            Mới là kết quả bước đầu, vẫn cần được tiếp tục bổ sung, điều chỉnh trong hoạt động giáo dục của giáo viên để đạt và mục tiêu theo Thông tư 30. Tuy nhiên, kết quả đạt được ban đầu là một đột phá đem lại niềm vui với các em học sinh, niềm tin của xã hội về hoạt động của ngành. Xin được chia sẻ một số nội dung về Thông tư 30 và kinh nghiệm, kết quả đạt được qua đánh giá 1 năm thực hiện tại đơn vị cấp huyện.
            I. Một vài điểm chú ý về Thông tư 30
           1. Yêu cầu về công tác kiểm tra, đánh giá:
Kiểm tra, đánh giá được thực hiện trong suốt chu trình tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên; người giáo viên khi bắt đầu xây dựng kế hoạch dạy học đã có phương án cho công tác kiểm tra đánh giá, duy trì thực hiện đảm bảo kết quả theo mục tiêu đề ra. Việc xử lý thông tin (đánh giá) luôn dựa trên quá trình phát hiện, thu thập và tìm hiểu thông tin (kiểm tra). Ta nhận thấy công tác kiểm tra và đánh giá có mối liên hệ chặt chẽ; kết quả kiểm tra cụ thể, chi tiết, khách quan để có đánh giá (khách quan) sự vật hiện tượng sát thực (nếu không là ngược lại). Trong hoạt động dạy học kiểm tra đánh giá học sinh trong học tập đã giúp giáo viên nắm được mức độ mà từng học sinh nắm được trên các mặt từ đó để điều chỉnh quá trình dạy học, tổ chức các hoạt động phù hợp đối tượng, điều kiện trang thiết bị, CSVC hiện có để đạt mục tiêu. Phát hiện kịp thời những lệch lạc, lỗ hổng để bổ sung, điều chỉnh, định hướng, khuyến khích các em hoàn thành và hoàn thành tốt hơn. Thống nhất, phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục học sinh. Giúp đỡ học sinh tự đánh giá và động viên được quá trình kiểm tra, đánh giá lẫn nhau giữa các học sinh.
           2. Một số yêu cầu giáo viên cần chú ý khi đánh giá
           - Khách quan và toàn diện trong kiểm tra đánh giá: Thông tin thu thập, quan sát được chính xác, phán ánh đúng sự vật hiện tượng. Quá trình đánh giá khách quan tạo sự công bằng trong mỗi học sinh. Đánh giá xuyên suốt trong quá trình, đánh giá toàn diện, vận dụng nhiều phương pháp để phân tích nguyên nhân của kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra. Đánh giá các mặt hoạt động của học sinh đảm bảo tính toàn diện và sự phát triển đa trí tuệ của sinh. Để đảm bảo tính toàn diện cần chú ý đến cả biểu hiện và sự phát triển về năng lực, phẩm chất chứ không đơn thuần là kiến thức các môn học (thường xuyên và đánh giá cuối kì bằng điểm số) và hoạt động giáo dục.
           -  Đánh giá có hệ thống và rõ ràng, có tính nhân văn: Tại thông tư 30 xác định đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì người học. Công tác theo dõi quan sát tỉ mỉ, từng hoạt động học sinh trong quá trình tham gia học tập, sinh hoạt tập thể giúp giáo viên điều chỉnh kịp thời, hỗ trợ cần thiết (từ bạn hoặc giáo viên), động viên để học sinh hoàn thành nhiệm vụ với một tinh thần thoải mái. Quá trình kiểm tra, đánh giá được thực hiện hàng ngày trong từng hoạt động giúp điều chỉnh kịp thời không để lại cho học sinh lỗ hổng. Giáo viên thể hiện cho học sinh biết và hiểu được lý do kết quả của cô giáo đánh giá với bản thân. Học sinh có thể hiểu rõ được mặt hạn chế và những điểm tích cực của mình từ lời đánh giá nhận xét của giáo viên để tự sửa chữa, phát huy trong tinh thần thoải mái, tự tin, cầu tiến.
 Thông tư 30 thể hiện rất rõ công tác đánh giá học sinh, sự tôn trọng và tin tưởng ở học sinh, thể hiện mong muốn các em tiến bộ và phát triển trên mọi phương diện. Lời nhận xét, đánh giá ngoài yêu cầu về kiến thức kỹ năng có yêu cầu về động viên, khích lệ học sinh vươn tới, nó biểu hiện yêu cầu phát triển và tính nhân văn của đánh giá. Do vậy, lời nhận xét là cứu tinh cho các em biết lỗi cụ thể để mà sửa, là động lực tạo niềm vui cho các em để tiếp tục sửa chữa mặc dù kết quả hiện tại chưa đạt mong muốn.
          3. Một số phương pháp thường dùng khi đánh giá học sinh
          - Quan sát và vấn đáp để đánh giá: Hình thức vấn đáp và quan sát trong đánh giá thường được giáo viên sử dụng. Trong việc thực hiện TT 30 Phương pháp quan sát rất quan trọng đặc biệt là trong dạy học theo mô hình trường học mới; giáo viên luôn quan sát để phát hiện, có biện pháp hỗ trợ kịp thời (cá nhân tự điều chỉnh, bạn, GV giúp), đúng lúc. Đó là việc hỏi- đáp giữa giáo viên - học sinh; quan sát quá trình học sinh học tập như nghe câu trả lời, lời chia sẻ, thảo luận trong nhóm, thái độ, hành vi và kỹ năng; những biểu hiện về năng lực, phẩm chất của học sinh trong các môn học và hoạt động giáo dục; cũng có thể là kết quả trên giấy, bảng, vở bài tập của cá nhân, nhóm để giáo viên thu thập thông tin và xử lý nguồn thông tin vừa thu thập.
          - Trắc nghiệm: Tự luận hay khác quan thì trắc nghiệm là phương pháp để kiểm tra về kiến thức sau bài, một số bài … kì hay năm học. Trắc nghiệm khách quan ít được dùng để đánh giá về thái độ, hành vi.
         II. Kết quả đạt được sau 1 năm thực hiện
Sau một năm có hiệu lực thi hành Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT về đánh giá học sinh tiểu học đã đạt kết quả:
         1. Có thay đổi nhận thức: Mặc dù việc bỏ đánh giá bằng cho điểm được giảm từ khi thực hiện Thông tư 32 và tiếp đến là không đánh giá điểm ở lớp 1, nhưng kể từ khi tiếp nhận và bắt đầu chuẩn bị triển khai Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2015 về đánh giá học sinh tiểu học của Bộ GD&ĐT vẫn nhiều áp lực từ trong ngành và dư luận về việc xóa bỏ hoàn toàn điểm số trong đánh giá thường xuyên. Nhưng sau một năm tuyên truyền và triển khai thực hiện thì giảm bớt điểm số, tăng cường nhận xét, tư vấn, động viên khuyến khích học sinh đã có sự thay đổi cơ bản trong CBQL, GV và xã hội. Đã tiếp nhận một cách tích cực; có nhiều biểu hiện tích cực từ nhiều phía về thay điểm số bằng nhận xét, khuyến khích, động viên học sinh .
Hiểu được tác dụng của việc đánh giá thường xuyên (không cho điểm) và nhận thấy tác dụng khích lệ học sinh của việc ghi nhận xét, học sinh được đánh giá toàn diện hơn so với chủ yếu chú trọng đến kiến thức và kĩ năng. Không những về kiến thức mà học sinh còn được đánh giá về sự hình thành và phát triển năng lực qua các biểu hiện (VSCN, ăn mặc, chuẩn bị đồ dùng học tập…), đánh giá về sự hình thành và phát triển phẩm chất của học sinh qua các biểu hiện  (chăm học, chăm làm, tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm …).
Ngoài đội ngũ làm công tác giáo dục, các em học sinh và đặc biệt là các bậc cha mẹ, công đồng đã thấy được rõ rệt tác dụng của các lời nhận xét; lời nhận xét có tác dụng tích cực, mang lại niềm vui thật sự cho học sinh. Nhận thức được rằng điểm số chưa phán ánh được tính toàn diện, gây sự ganh tỵ; cùng một con điểm nhưng trình độ các vùng không giống nhau; mục tiêu của một số học sinh để đạt con điểm hàng ngày có khi cũng chưa trong sáng, chưa phải vì sự tiến bộ trong học tập, rèn luyện. Xóa bỏ được quan niệm cho rằng không cho điểm thường xuyên thì học sinh không có động lực học tập, mà ngược lại nhận xét xác đáng lại động viên, khích lệ được các em, tạo sự tự tin, chống sự ganh tị tạo mối đoàn kết thân thiện trong lớp học, cộng đồng.
         2. Về giáo viên
         Để đưa Thông tư 30 và trong hoạt động dạy học hàng ngày có hiệu quả bắt buộc giáo viên cần phải điều chỉnh hình thức tổ chức dạy học. Hình thức, tổ chức dạy học đảm bảo vai trò của người tổ chức hoạt động; đảm bảo tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên. Hình thức tổ chức để giáo viên dễ quan sát, dễ hướng dẫn cho học sinh; để phối hợp, hợp tác được với bạn bè, từng bước biết cách tự đánh giá và đánh giá được kết quả của bạn (có thể qua hướng dẫn của giáo viên). Quá trình tổ chức dạy học đảm bảo chuẩn kiến thức và phù hợp đối tượng, phát huy được năng lực, sở trường của từng em và điều kiện trang thiết bị. Kết quả cho thấy giáo viên đã tổ chức lớp học linh hoạt, hoạt động quan sát học sinh khá chi tiết, kịp thời hướng dẫn, trợ giúp, tư vấn học sinh chưa đạt kiến thức trong từng đơn vị bài học và hoạt động giáo dục. Ở các nhà trường việc sinh hoạt ngoài giờ lên lớp được xây dựng kế hoạch và thực hiện có nề nếp, nhiều trường đã tổ chức các buổi trải nghiệm thực tế ở các địa danh, di tích lịch sử trong và ngoài huyện cho học sinh. Như vậy, đã có nhiều tiết dạy, nhiều hoạt động của nhiều giáo viên được đổi mới, điều chỉnh cách tổ chức so với trước khi và thời gian mới thực hiện Thông tư 30.
Việc đánh giá thường xuyên được giáo viên ngày càng hoàn thiện. Nội dung các câu, lời nhận xét đảm bảo ngắn gọn, cơ bản toát lên được các yêu cầu như: vị trí (câu nào, bài nào…), cái gì (viết sai kích cở, sai phép tính…) và nên sửa như thế nào để sau tốt hơn bằng lời khuyến khích, động viên giàu xúc cảm giúp học sinh cố gắng vươn tới tốt hơn. Đánh giá hình thành phát triển năng lực, phẩm chất đúng yêu cầu, sự việc, qua biểu hiện ở từng mặt. Việc đánh giá thường xuyên được hiện trên cả 3 phương diện lời nói (có khi là thể hiện động tác như xoa đầu, một nụ cười…), thông tin với phụ huynh (điện thoại, tin nhắn, sổ liên lạc, ghi chép khác), trực tiếp ghi vào vở (phiếu) sau bài làm của học sinh …
Đội ngũ giáo viên hiểu rõ và biết cách nhận xét trực tiếp bằng lời, hoặc ghi vào vở, phiếu học tập của học sinh và hướng dẫn học sinh tự phát hiện kết quả (có thể bạn hướng dẫn) từ đó các em điều chỉnh, bổ sung ngay nội dung chưa đạt đã có tác dụng tích cực và hiệu quả hơn. Chú trọng nội dung trên hơn khi ghi vào sổ theo dõi, học bạ (để theo dõi và cho quản lý kiếm tra). Chữ viết, nơi viết của giáo viên cũng được rèn luyện, bố cục cân đối hơn trước đối với những giáo viên chữ chưa đẹp, hay trình bày tùy tiện.
Giáo viên thân thiện và gần gũi với học sinh phụ huynh hơn.
        3. Đối với học sinh
        Học sinh tiếp thu kiến thức tự tin hơn, có tinh thần tương trợ, giúp đỡ, hợp tác tốt hơn. Có ý thức tự làm việc với tài liệu, sách giáo khoa. Thích thú và vui hơn với những lời động viên, khen ngợi từ giáo viên; biết tự phát hiện, điều chỉnh, bổ sung những nội dung chưa đạt từ việc tự nghiên cứu bài học, tự rèn luyện, từ hỗ trợ của bạn bè và giáo viên. Biết cách đánh giá kết quả bài làm, lời nói của mình chia sẻ của bạn từ việc đối chiếu với kiến thức hoặc gợi ý của giáo viên và của bạn. Năng động, tự giác, giao tiếp tự tin trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

          4. Cán bộ quản lí các trường tiểu học
          Bám sát quá trình đánh giá học sinh, quan tâm công tác đánh giá trong từng tiết học. Điều chỉnh kế hoạch phù hợp với hoạt động dạy học trên cơ sở kết quả kiểm tra, đánh giá của từng lớp, môn học trên đề xuất hợp lý của giáo viên. Đổi mới công tác khen thưởng cuối kì và cuối năm học. Tổ chức tốt công tác chuẩn bị và nghiệm thu, bàn giao chất lượng cuối năm học...
          5. Phụ huynh học sinh, cộng đồng
          Phụ huynh học sinh đã chấp nhận việc không cho điểm thường xuyên, làm quen với các lời nhận xét của giáo viên trong vở, phiếu học tập của con em; xóa bỏ câu hỏi “Hôm nay con được mấy được”, xóa bỏ việc thưởng tiền khi con được điểm 10 và các lời hứa thưởng khi đạt điểm cao. Xuất hiện nhiều hơn các câu hỏi “Hôm nay đến lớp có vui không ?”, “Học được điều gì mới ?”… Mối quan hệ phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm lớp gần gũi thân thiện hơn, có nhiều phụ huynh trực tiếp hoặc bằng các hình thức khác để cùng trao đổi chia sẻ việc học tập của con em; số phụ huynh tham gia quan sát lớp học và trực tiếp tham gia hoạt động cùng học sinh, cô giáo tại lớp học nhà trường nhiều hơn trước.
         III. Một vài điểm cần duy trì để thực hiện tốt Thông tư 30 trong dạy học
         - Đảm bảo ngyên tắc trong công tác đánh giá: Cần chú ý đảm bảo 4 nguyên tắc của đánh giá mà Thông tư đã yêu cầu, không chệch hướng và vận dụng không phù hợp, lẫn lộn tính nguyên tắc và nội dung quy định.
         + Đánh giá vì sự tiến bộ: Việc khen, khuyến khích học sinh trong đánh giá trước đây cũng đã thực hiện hàng ngày ở một số môn có biểu hiện rõ ràng như Tiếng Việt Toán, Hát nhạc… và thường khen vào những nỗi trội dưới dạng xếp loại. Theo yêu cầu mới cần đảm bảo tính phát triển theo lý thuyết Đa trí tuệ là mỗi học sinh có thể có năng khiếu, năng lực về một lĩnh vực nào đó mà không có năng lực ở vấn đề kia. Các em được động viên, khuyến khích, theo dõi sự tiến bộ nhỏ nhất ở các mặt trí tuệ thể hiện như trí tuệ Ngôn ngữ, logic toán, âm nhạc, giao tiếp, tự nhiên, hoạt động xã hội… để phát huy cho từng em, từng lĩnh vực một từ những biểu hiện nhỏ nhất ban đầu.
         + Đánh giá toàn diện: Chú ý đánh giá toàn diện trên cả Đức-Trí-Thể-Mỹ. Cụ thể là ở các môn học và hoạt động giáo dục. Bên cạnh đánh giá kiến thức kỹ năng môn học chú ý việc điều chỉnh của Thông tư 30 là đánh giá những biểu hiện năng lực, biểu hiện phẩm chất rõ nét và cụ thể hơn so với các văn bản trước đây.
         + Công tác kết hợp trong đánh giá và đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh…: Điều này thể hiện tôn trọng tính độc lập và khách quan của mỗi học sinh; các em tự đánh giá kết quả của mình, của bạn, qua góp ý, định hướng của GVCN. Học sinh biết được lỗi để khắc phục, vươn tối trong sự khuyến khích của bạn, cô giáo và gia đình. Gia đình cần nhận được sự tham khảo của cô giáo, nắm bắt được lỗi của con em và sự tiến bộ của các em trong quá trình tham gia học tập. Trong quá trình đánh giá, giáo viên giúp cho học sinh thấy được mình đã có tiến bộ, đã tốt hơn so với chính mình trước đó chứ không phải so với bạn khác. Lời động viên, lời khen đúng lúc làm cho các em phấn khích, thích thú; cảm nhận được sự quan tâm của bạn bè, yêu thương của cô giáo và niềm vui đang chờ em mỗi khi đến lớp. Quan sát và quan sát tích cực để phát hiện lỗi của học sinh cũng như những nội dung học sinh đã hoàn thành tốt. Phát hiện được lỗi của học sinh là rất tốt nhưng quan trọng là làm cho các em biết nơi mình bị lỗi (chưa đạt) và cách khắc phục lỗi đó như thế nào trong tâm thể thoái mái, phấn khích. Cách làm để học sinh tự nhận ra lỗi, hoặc bạn giúp nhận ra lỗi hay là giáo viên hướng dẫn cho học sinh phát hiện. Giáo viên cần chú ý “phúc tra” việc sửa lỗi chưa đạt của học sinh. Cũng nên tránh bớt sử dụng lời khen lặp, cùng một lời khen cho nhiều học sinh khác nhau trong một thời gian ngắn, như “giỏi lắm”, “em làm rất tốt”, có thêm thêm các lời “cô rất vui vì bài làm của em”, “bài hôm nay rất tuyệt”, “em nên phát huy nhé”…
          - Sử dụng hợp lý các hình thức khi đánh giá (thường xuyên và định kì): Mỗi hình thức đánh giá đều có một số lợi thế và tồn tại của nó, cần chú ý để phát huy lợi thế và tránh tồn tại một cách phù hợp.
          Để đánh giá thường xuyên một cách hiệu quả, người đánh giá chú ý theo dõi các hoạt động của học sinh tỉ mỉ, chính xác. Để thuận lợi cho quan sát cần tổ chức hoạt động phù hợp cho em có thể làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm; đối chiếu kết quả làm việc của các em so với mục tiêu đề ra để đánh giá mức độ đạt được. Động viên học sinh tự đánh giá bài làm của mình trên cở sở năng lực của bản thân hoặc bạn bè và giáo viên hỗ trợ. Theo dõi những sai sót, lỗi kỹ thuật mà học sinh mắc phải để tư vấn, hướng dẫn bạn trợ giúp hoặc giáo viên trợ giúp.
Nội dung nhiều giáo viên vẫn còn đang boăn khoăn là việc đánh giá thường xuyên bằng lời và ghi nhận xét như thế nào cho phù hợp. Nội dung này tiếp tục bám sát mục (4) Công văn 6169/BGDĐT-GDTH ngày 27/10/2014 của Bộ. Sử dụng linh hoạt, phù hợp, xác định đối tượng, thời điểm, nội dung cần ghi lại vào vở, vào bài viết trên giấy, sổ theo dõi chất lượng và mức độ cần đánh giá, tư vấn, khuyến khích bằng lời. Xem xét nội dung kiến thức, biểu hiện năng lực, phẩm chất nào của một học sinh mà cần trao đổi với cha mẹ học sinh đó… Những học sinh chỉ được nhận xét bằng lời giáo viên cũng cần có theo dõi và biết được mức độ tiến bộ tránh “lời nói gió bay”. Việc có hay không ghi nhận xét thường ngày, từng đợt vào vở, bài làm của học sinh, vào sổ theo dõi chất lượng cũng cần đảm bảo khuyết khích, động viên để học sinh ngày càng tiến bộ vươn tới đạt được mục tiêu và mỗi ngày đến trường của các em đều là một ngày vui. Những học sinh “thuộc diện” ít hoặc không ghi lời nhận xét cả đợt thì giáo viên cũng cần nắm rõ được đặc điểm, năng lực của học sinh đó. Nếu không ghi nhận xét, không nhớ được thì phải có sổ theo dõi cá nhân, giáo viên (kể cả GV dạy các môn đặc thù số- lượng học sinh nhiều) không được phép không nắm được về mức độ đạt kiến thức, sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất của mỗi học sinh.
          Cần thể hiện sự động viên khích lệ, biểu dương học sinh khi nhận xét bằng những cách khác nhau, thể hiện sự thân thiện gần gũi vui vẻ như vỗ tay chúc mừng, vỗ vai, xoa đầu, bắt tay học sinh; dùng những lời nói tích cực như “em sẽ làm tốt”, “các bạn sẽ ngạc nhiên về em”…. Không dùng những từ, những lời lẽ mang tính chê bai, mỉa mai, thái độ thiếu tin tưởng, coi thường và tuyệt đối không nóng giận rồi chửi mắng, dùng vũ lực với học sinh.
          Mỗi giáo viên luôn thể hiện sự tin tưởng và mong muốn học trò của mình bây giờ và sau này sẽ có trách nhiệm với bản thân, có ích cho gia đình và xã hội. Thông tư 30 đã góp phần để thực hiện điều đó. Những kết quả bước đầu từ việc điều chỉnh phương pháp, tổ chức lớp học; niềm vui và sự cầu tiến của học sinh, hài lòng của các bậc phụ huynh, dư luận của xã hội là một bước đi trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo.
 

Tác giả bài viết: Lê Hữu Tân - Phòng GD&ĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn